Trước hết, chúng ta nên trả lời được tại sao chúng ta cần dùng laser trong nha khoa, không phải theo trào lưu mà là có ý nghĩa thực sự!?
Với lịch sử ứng dụng hơn 30 năm cùng các nghiên cứu sâu rộng đã xác định, hiện tại chúng ta có thể khẳng định được các ưu điểm của laser như sau:
- Chính xác cao, có chọn lọc.
- Sát khuẩn vùng điều trị.
- Ít xâm lấn, mau lành thương.
Vấn đề là chúng ta phải thực sự hiểu, nắm bắt như thế nào để có thể sử dụng laser hiệu quả. Rõ ràng điều này đòi hỏi Bác sĩ Răng Hàm Mặt chúng ta phải bỏ thời gian tìm hiểu, nghiên cứu và trải nghiệm mới có thể thấu suốt được.
Laser không mới, nhưng những vấn đề về vật lý, kỹ thuật, cấu tạo, thông số,… luôn làm cho nha sĩ đau đầu và mơ hồ. Một trong những số đó là cách gọi tên laser. Chúng ta thường gọi là laser mô cứng, laser mô mềm, laser A, B, C, D,… gì đó, điều này không sai nhưng không đầy đủ để chúng ta hiểu đúng cái laser đang có.
Do đó, chúng ta cần nắm rõ ít nhất 3 cách phân loại của 1 hệ thống laser:
I. Phân loại theo chất hoạt động (active medium)
II. Phân loại theo chất nhạy sáng (chromophore)
III. Phân loại theo kiểu phát xung (pulse)
I. Phân loại theo chất hoạt động (active medium)Chất hoạt động (active medium) là chất liệu để tạo ra tia laser có bước sóng (wavelength) xác định đồng thời cũng quyết định được ứng dụng lâm sàng của laser đó.
1. Laser tinh thể rắn (solid-state): Khối tinh thể được nhúng (pha trộn) với các nguyên tố đất hiếm khác để tạo ra trạng thái nguyên tử kém bền vững. Quá trình tạo ra tia laser được kích hoạt bởi sự kích sáng (flashlamps). Chúng ta có:
– Erbium: YAG (2940nm) được hấp thụ hoàn toàn bởi nước, kế đến là hydroxyapatite.
– Erbium, chromium: YSGG (2780nm): tương tự Er:YAG nhưng hấp thụ bởi nước ít hơn.
– Neodymium: YAG (1064nm): hấp thụ bởi chất có màu và hemoglobin.
– Holmium: YAG (2100nm): ít thông dụng.
2. Laser từ chất khí (Gas): Gas được chứa trong buồng kín, chúng ta có:
– CO2 (9300nm – 10600nm): hấp thụ mạnh bởi nước và hydroxy apatite
– Argon (488nm – 514nm): ánh sáng xanh
– Helium-neon (633nm)
3. Semiconductor Diode: Đây là các chất bán dẫn dạng rắn (ví dụ: Gallium, aluminum, arsenide)
– Diode (810 – 1064nm): hấp thụ mạnh bởi cấu trúc màu
– Laser diode (400-450nm): ánh sáng xanh
II. Phân loại theo chất nhạy sáng (Chromophore)Chất nhạy sáng (Chromophore) là thành phần quyết định cho cấu trúc mô đó hấp thụ bước sóng nào.
1. Hemoglobin, melanin, cấu trúc có màu (laser mô mềm)
– Diode (810 – 1064nm): hấp thụ bởi hemoglobin và melanin.
– Nd:YAG (1064nm): tương tự
2. Nước (laser mô cứng và mô mềm)
– Er:YAG (2940nm): mạnh nhất bởi nước
– Er, Cr: YSGG (2780nm): ít hơn
3. Nước và hydroxyapatite
– CO2 (9300 – 10600nm): hấp thu mạnh nhất bởi hydroxyapatite
III. Phân loại theo kiểu xung (Pulse):Kiểu xung là lượng thời gian mà một chùm năng lượng laser được chiếu vào mô đích. Đây là thông số quan trọng để kiểm soát nhiệt lượng trong tương tác mô-laser.
1. Kiểu phát liên tục (continuous wave)
– Tia laser được phát ra liên tục cùng cường độ cho tới khi ngưng kích hoạt.
– Nguy cơ gây hoại tử nhiệt.
– Loại laser: các laser Diode, laser CO2 trước đây.
2. Kiểu ngắt quãng (Gated-pulse):.
– Tia laser liên tục được ngắt quãng bởi công tắc thiết kế cơ học hoặc bằng dòng điện.
– Giản bớt phần nào tác hại do nhiệt.
– Các laser Diode thế hệ sau, CO2.
3. Kiểu Xung tự do (Free-running )
– Tia laser được phát ra cực ngắn (micro giây) nhờ cơ chế pump up của Flashlamps.
– Thời gian nghỉ đủ dài giữa các xung giúp mô dãn nhiệt, hạn chế tác hại nhiệt.
– Các loại laser: Er:YAG (2940nm); Er,Cr: YSGG (2780nm); Nd:YAG (1064nm)
Theo đó, về mặt bản chất cho tới thời điểm hiện tại chúng ta có thể tạm đóng khung vài điều:
- Tên gọi laser là thể hiện bước sóng cũng đồng nghĩa với chromophore đi kèm
- Các laser diode không có kiểu xung tự do, là các laser nhiệt
- Laser diode không dùng cho mô cứng.
- Kiểm soát nhiệt trong tương tác laser-mô là yếu tố quyết định.

Bác sĩ: Ung Viết Cường
